Chủ nhật, 20/6/2010, 06:00 (GMT+7)

Những mảnh vụn của kí ức

Khoảng hai năm trở lại đây, ở Hà Nội, phong trào đan len bỗng nổi lên rất rầm rộ. Len Trung Quốc vừa rẻ vừa nhiều màu sắc, tha hồ cho các thiếu nữ trổ tài đan lát.

Lê Thị Hậu

Các bà các chị ở cơ quan tôi cũng chẳng chịu thua kém lớp trẻ. Họ tranh thủ lúc trên xe buýt, lúc nghỉ trưa. Họ đan cho mình, cho chồng, cho con, cho bạn, rồi cả con của bạn... Một vài cuộn len giá chỉ chục nghìn đã đủ để đan một chiếc khăn quàng ngoài, khá điệu đà và bắt mắt.Vừa rẻ, vừa đẹp, ai chẳng thích? Tuy nhiên thú vui bất chợt này không hề làm tôi hào hứng. Ngày xưa, cái thời bao cấp, những cuộn len đã làm tôi còng lưng mờ mắt, chúng đã khiến tôi chỉ muốn mãi mãi tránh chúng thật xa...

Dạo ấy, sau bao năm bố tôi xung phong công tác vùng sâu vùng xa; sau 16 năm lương của bố đội trần không thu xếp nổi, bố tôi mới được chuyển từ miền núi về Hà Nội. Hộ khẩu và chỗ ở tại Hà Nội là cả một vấn đề sống còn. Gia đình tôi lơ ngơ như bò về thành phố, các đường đi nước bước đều chẳng nắm được chút nào. Thật kì lạ, bố được chuyển công tác về Hà Nội như một người "độc thân" và được cấp chung với một bác cũng "độc thân" căn hộ 24 mét vuông ở một khu tập thể mới xây. Căn phòng của bố rộng khoảng 14 mét vuông, kê một chiếc tủ tài liệu bằng gỗ dán, một chiếc giường đơn và một chiếc bàn làm việc- tiêu chuẩn của một cán bộ hộ "độc thân". Bác cán bộ ở cùng với bố tôi thường ăn nghí tại cơ quan cho tiện, vừa đỡ công đi lại, vừa tiện có điện nước, quạt, đèn của văn phòng. Vợ con bác làm ruộng ở tận trong Thanh Hoá, bác chỉ cần một chiếc bàn dài, một cái bếp dầu và hai chiếc nồi con là đủ. Thời ấy người ta đơn giản lắm.

42-16567514-634121-1368172022_500x0.jpg

Khi mấy mẹ con chúng tôi líu ríu về đến Hà Nội thì Hà Nội đã vào hè. Mùa hè năm ấy là mùa hè đáng nhớ nhất trong cuộc đời tôi. Từ một nơi rộng rãi thông thoáng và không khí mát lành, chúng tôi bị đưa đến nhốt trong một cái "chuồng câu" nhỏ xíu, ngột ngạt và nóng bức. Tệ hại hơn cả là không có nước. Ngày ấy, có lẽ công việc hàng ngày quan trọng nhất của chúng tôi là đi xin nước. Tôi còn nhớ, Hà Nội ngày ấy còn nhiều cây xanh và những khoảng đất trống. Ở tầng một, nhà ai cũng quây rào làm vườn rau liền với nhà, các căn hộ ở tầng trên thì chia nhau những miếng đất hoang ở xa xa hơn. Tất cả đều tăng gia sản xuất. Nhà nhà trồng rau. Nhà nhà nuôi lợn. Thời ấy, con lợn đã có công đưa được một từ vào cuốn "từ điển thời bao cấp". Người ta chỉ cần nói "thủ trưởng nhà tôi ốm" hoặc "tôi xin cái này về cho thủ trưởng nhà tôi" là ai cũng hiểu.

Bố tôi là một người rất chịu khó. Nhà vì quá chật không nuôi được lợn như mọi người, bố nuôi gà úm (gà con). Ông làm những cái chuồng gà xinh xinh đặt dọc hành lang hẹp, lối vào khu vệ sinh chung bé tí tẹo. Khu vệ sinh nhỏ xíu, cái hành lang hẹp và hộc bếp toen hoẻn đều được tận dụng một cách tối đa. Chiếc chuồng gà của ông được ông chăm chút vót từng chiếc nan, đan cài một cách khéo léo trông như lồng nuôi chim quý. Đã mấy chục năm trôi qua, tôi vẫn còn nhớ như in những chiếc nan tre óng ả, chuốt trơn nhẵn, màu vàng nhạt.

Ngày ấy, lũ trẻ con chúng tôi chưa biết làm gì để kiếm ra tiền, phụ giúp cho bố mẹ. Tất cả trông chờ vào đồng lương của bố tôi nên rất khó khăn. Một bà dì họ thấy gia đình nhà tôi như vậy bèn nhận cho chúng tôi một công việc phụ: đan thuê! Từ nhỏ sống trên miền núi, tôi biết chặt củi, hái rau, lấy măng nhưng tôi không biết đan lát, thêu thùa. Trong mấy chị em gái, tôi lại là đứa không thích kim chỉ, chỉ thích chui vào một xó đọc truyện, ngồi xem ong lấy mật, ra vườn rau xem cây nẩy mầm hoặc lang thang vào rừng kiếm củi. Vì vậy bố tôi thường rên lên: "Nếu thế giới có giải vụng về, con sẽ giật giải nhất". Vậy mà tôi phải đan áo.

Len ngày ấy là loại len gai, rậm như rơm và cứng quèo như sợi. Hàng đêm, tôi và cô em gái thường ngồi còng lưng, nhức mắt với cái đám dây rợ màu xanh xanh, đỏ đỏ, ráp xì, thô cứng. Len nặng, áo to, vướng víu, tôi rất hay làm gãy kim đan. Kim đan ngày ấy thường được vót từ các đôi đũa tre. Vót kim đan cũng không dễ, dao sắc quá, vót mạnh tay thì lẹm thịt, cùn quá thì vót vừa lâu, vừa xước hết các ngón tay. Vót cho đều hai chiếc của một đôi, đúng cỡ kim theo độ to nhỏ của len cũng mất rất nhiều công sức. Một hôm, khi thấy tôi đánh vật với mấy đôi que đan, đôi bàn tay bị khía đứt, bố bảo tôi đi ngủ rồi cặm cụi ngồi vót. Sáng hôm sau, lúc thức dậy tôi đã thấy trên bàn một dãy kim đan đủ các số to nhỏ, được sắp xếp lần lượt và cài cẩn thận vào một tấm bìa. Những đôi kim đan của bố tôi trơn nhẵn, tròn đều, mũi kim thuôn nhọn...

Ngày nay, nhìn những đôi kim đan inok bóng loáng, tôi lại chạnh lòng nhớ tới vỉ kim đan của bố tôi dạo nào.

Giờ thì bố tôi đã đến một nơi rất xa. Không hiểu bố tôi có biết, vỉ kim đan của bố tôi dạo ấy đã cùng tôi đi đến tận bây giờ không nhỉ?

Vài nét về blogger:

Ý kiến bạn đọc ()