Biến tướng doping
Hai tháng trước khi Olympic Athens khai mạc, vấn đề doping đã trở thành thời sự. Tháng 6, một ống tiêm chứa chất bí mật nào đó cùng tetrahydrogestrinone (THG) đã được gửi đến Cơ quan chống doping Mỹ (USADA) từ một huấn luyện viên giấu tên.
Vụ này dẫn đến việc phanh phui hàng loạt vận động viên tên tuổi đã và đang dùng THG, được sản xuất từ BALCO (The Bay Area Laboratory Co-operative, California) và được quảng cáo là “thuốc dinh dưỡng”.
Khách hàng BALCO gồm Tim Montgomery (vô địch thế giới môn chạy 100m), Marion Jones (đương kim vô địch thế giới môn chạy 100m nữ), Shane Mosley (cựu vô địch quyền Anh thế giới)… Trên thực tế, theo tuần báo Anh The Economist ngày 5/8, chuyện doping xảy ra như cơm bữa trong làng thể thao thế giới. Và còn có vô số vận động viên phải trả lại huy chương sau khi bị phát hiện dính dáng doping.
Trên Scientific American ngày 21/6, tác giả H. Lee Sweeney (giáo sư Đại học Y Pennsylvania, một trong những chuyên gia doping hàng đầu thế giới) cho biết biến tướng tinh vi nhất của doping là gen tổng hợp (synthetic gene), có thể duy trì nhiều năm và tạo ra các chất hóa học giúp tăng cơ một cách tự nhiên. Loại liệu pháp gen này có thể thay đổi cuộc sống ở người già và bệnh nhân loạn dưỡng cơ.
Với kỹ thuật hiện tại, người ta không thể phát hiện gì cả. Các hóa chất tổng hợp giúp tăng cơ (từ liệu pháp gen) hoàn toàn giống hệt hóa chất tự nhiên có trong cơ thể và chỉ nằm trong cơ chứ không trong máu. Do đó, việc truy tìm dấu vết doping là điều bất khả thi. Có ba loại cơ trong cơ thể: cơ trơn, cơ tim và cơ xương (chiếm nhiều nhất, đóng vai trò quan trọng trong vóc dáng cơ thể và teo dần đi với ảnh hưởng tuổi tác).
Như vậy, làm thế nào để kích thích phát triển cơ xương chính là chìa khóa vấn đề. Để đem lại sự phát triển cơ xương, người ta sử dụng gen nhân tạo có thể sản sinh thành tố phát triển giống insuline (insulinlike growth factor I, IGF-I). Thí nghiệm trên chuột con cho thấy IGF-I đã làm tăng 15-30% cơ; đồng thời giúp tăng sức dẻo dai ở chuột già. Điều đáng chú ý nhất là IGF-I chỉ có trong cơ, không có trong máu, do đó không gây hiệu ứng phụ cho tim mạch cũng như ung thư.
Giáo sư H. Lee Sweeney cho biết thêm cơ chỉ là chặng đầu của liệu pháp gen doping. Còn nhiều “cánh cửa” khác. Sức chịu đựng thường bị chi phối bởi lượng oxy vào cơ. Do đó, vấn đề cốt lõi là làm sao bơm oxy vào cơ. Trong tự nhiên, erythropoietin là protein giúp kích thích phát triển tế bào hồng cầu mang oxy. Do vậy người ta đã chế ra erythropoietin nhân tạo.
Vài năm gần đây, loại thuốc Epoietin (thường được gọi tắt EPO - dùng trị bệnh thiếu máu) đã được nhiều VĐV sử dụng, đặc biệt tại vòng đua Tour de France 1998. Dù toàn bộ một đội thi đã bị trục xuất khỏi vòng Tour de France này khi bị phát hiện dùng EPO, nhưng việc dùng EPO đến nay tiếp tục tồn tại. Trong phòng thí nghiệm, người ta thật ra đã tiến hành thử dùng liệu pháp gen để kích thích tăng erythropoietin trên động vật (khỉ và khỉ đầu chó). Ở cả hai thí nghiệm, tế bào hồng cầu trong con vật đã tăng gần gấp đôi trong 10 tuần!
Tính phức tạp của vấn đề ở chỗ cùng lúc với mối lo ngại về sự lạm dụng liệu pháp gen cho doping, giới chức thể thao đồng thời cũng thừa nhận rằng liệu pháp gen có thể hữu ích cho việc giúp vận động viên nhanh chóng hồi phục sau chấn thương. Tuy nhiên, dù như thế nào, bản chất thể thao là tinh thần thượng võ, là tinh thần trong sáng, là tinh thần anh hùng.
Theo Tuổi Trẻ, thành tích thể thao chẳng có ý nghĩa gì nếu nó là kết quả của sự gian lận và sự khát khao thành tích một cách thiếu tự tin và hèn nhát. Và cũng đừng quên sự thật rằng thể thao thế giới đã có không ít bi kịch doping, như trường hợp vận động viên nữ Florence Griffith Joyner (vô địch môn chạy 100m và 200m nữ tại Olympic Seoul 1988), người đã chết ở tuổi 38 từ hậu quả của những năm tháng “thể thao doping”.